Sử dụng và phát triển bền vững tài nguyên cây thuốc

Sử dụng bền vững tài nguyên cây thuốc

Sử dụng bền vững (Sustainable use) nghĩa là khai thác và sử dụng các hợp phần của đa dạng sinh học (ĐDSH) theo cách thức và ở một mức độ để không dẫn tới sự suy giảm lâu dài về ĐDSH. Qua đó, có thể duy trì tiềm năng của ĐDSH để đáp ứng những nhu cầu và nguyện vọng của các thế hệ hiện tại và tương lai. Sử dụng bền vững được xem là nền tảng định hướng cho sự phát triển bền vững.

Theo WHO, tài nguyên cây thuốc phải được sử dụng một cách bền vững và an toàn thông qua các hoạt động:

  • Cơ chế luật pháp, bao gồm: (1) Nhà nước điều hòa hoạt động thu hái hoặc khai thác cây thuốc từ hoang dại, (2) Nghiêm cấm thu hái các loài cây thuốc hoang dại đang bị đe dọa (trừ việc thu thập vật liệu nhân giống với lượng nhỏ, theo cách không làm nguy hại đến loài cây thuốc đó), (3) Kiểm soát hoạt động buôn bán cây thuốc và các sản phẩm của chúng.
  • Nghiên cứu và phát triển trồng cây thuốc, bao gồm: (1) Thiết lập các vườn ươm cây thuốc, (2) Cải thiện mặt nông học các loài cây thuốc được trồng và trồng các loài cây thuốc có nhu cầu nhưng chưa được trồng trước đây (3) Chọn tạo các giống cây thuốc thuần chủng, có năng suất và chất lượng cao, (4) Hạn chế sử dụng thuốc hóa học trong trồng cây thuốc, (5) Đào tạo và cung cấp thông tin về kỹ thuật trồng trọt cây thuốc, đặc biệt là cho cộng đồng.
  • Cải tiến kỹ thuật thu hái, bảo quản và sản xuất thuốc.
  • Phát triển tài nguyên cây thuốc
  • Trồng trọt cây thuốc

Mặc dù nhu cầu sử dụng nguyên liệu làm thuốc rất lớn, nhưng chủ yếu được khai thác từ cây hoang dại, chỉ có khoảng 20% được khai thác từ cây thuốc trồng. Cho đến nay, việc trồng cây thuốc chủ yếu dựa theo cách canh tác cũ, vì vậy mà chất lượng dược liệu không ổn định và nhiều khi không đạt tiêu chuẩn. Để khắc phục yếu điểm này, cần trồng cây thuốc theo quy trình GAP để tiêu chuẩn hóa dược liệu cho sản xuất thuốc và sử dụng.

GAP là chữ viết tắt của cụm từ tiếng Anh “Good Agricultural Practice”, nghĩa là “Thực hành Trồng trọt Tốt”.Với nội dung đó, GAP không chỉ áp dụng cho cây thuốc mà còn cho cây trồng nói chung, bao gồm cây lương thực, cây rau, cây ân quả, v.v…

GAP gồm hai phẩn: Phần mềm, là bộ tiêu chuẩn và quy trình trồng trọt; và phần cứng, là đểPao đấnTdTêTrkíệirthưc hiẹn phần mềmTTãõ^gồm cơ sơ yật chatnhư nlĩaTạhTviệc, kho clTứ^TTông^cĩPsảP xPất7’mạrbằng làm nơi sơ chế, thực nghiệm và các thiết bị đo đạc và kiểm tra châT lượng. Cpji_ngườLtham gia các công đoạn nói trên cũng phải được đào tạo để có kiến thức và kỹ năng thực hiện đúng các yêu cầu của GAP.

Đổi vói cây làm thuốc, xuất phát từ yêu cầu bảo đảm tiêu chuẩn chất lượng và tính ổn định của dược liệu, GAP là sự tiêu chuẩn hóa quy trình trồng trọt cây thuốc. Quy trình này có nhiêu công đoạn, mỗi công đoạn lại có tiêu chuẩn riêng cho từng loài cây cụ thể, bao gồm các tiêu chuẩn về môi trường tự nhiên, điều kiện sinh thái, giông, quy trình canh tác, chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh, thu hái, xử lý sau thu hoạch đến cách đóng gói và bảo quản dược liệu.

những loài đã được thuần hóa và trồng lâu đời.

– Trồng trọt.và chẫm sóc: Ngoài việc xác định đúng thời vụ trồng, còn bao gồm nhiều công đoạn từ chuẩn bị cây giông (gieo hạt, giâm hom, v.v…), chuẩn bị đất, phân bón và cách bón phân, tưới tiêu nước, chăm sóc và quản lý đồng ruộng, phòng trừ sâu bệnh, v.v… Mỗi công đoạn lại có các tiêu chuẩn riêng.

– Thn háịguà sơ^chế; cần thu hái vào giai đoạn cây có hàm lượng hoạt chất cao nhất. Cách thu hái và dụng cụ thu hái như thế nào để không làm gẫy, làm giập nát dược liệu. Cách làm khô như phơi nắng, sấy, hay phơi trong bóng râm, v.v… để bảo đảm chất lượng dược liệu.

– Bao gói^ận^shưyểngpà-bảo^quảnnKho chứa dược liệu nói chung phải thoang, mát, chông mốc, mọt và không làm thay đổi màu sắc, mùi vị của dược liệu.

Trong thời gian ngắn, khoảng 100 năm gần đây, thuốc cây cỏ trong các nền Y học phương Đông đang dần phải lùi bước, nhường cho sự phát triển của thuốc có nguồn gốc tổng hợp của nền Y học phương Tây. Ở hầu hết các nước, vai trò của thuốc Y học cổ truyền bị chuyển từ vị trí chủ yếu, chiếm 90% trong các loại thuốc, sang chiếm vị trí thứ yếu, chỉ chiếm 10-20% các loại thuốc trên thị trường. Sự thay đổi này làm tri thức truyền thông bị mài mòn, mất kho tàng tiềm năng, đến mất các cơ hội phát triển kinh tế và thay đổi bản sắc văn hóa của các dân tộc. Điều này đặt ra những thách thức lớn cho nền y học các nước phương Đông, đặc biệt là các nước có truyền thống như Trung Quốc, Ấn Độ, Việt Nam, v.v… Nếu không cải tiến, hiện đại hóa sẽ mất vị trí trước sự phát triển nhanh chóng của các loạLthuỡc tữ cấc nền Y học~phương-Tây –

Lý_do^GLíiĩlĩTà~’các nền-y học cổ truyền chậm tiến hóa, không kịp thời ứng dụngncác-tiêiubô của ldĩõãr~liực7~cửng^glĩệ,_dắjFoc~bẩo thủ và thiếu các chiên lược cẩn thiết. Kết quả là các thuốc truyền thông chủ yếu vẫn giữ nguyên “hình dạng, cách thức” như cách đây hằng nghìn năm, được sản xuất ở qui mô nhỏ lẻ, không đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của xã hội hiên đai:JkhíLsử_ dụng, chất lương không..ổnT^nlữll^ó. kiểĩTrtra chấTTữỢng, tiêu chuẩn hoa, v.v..;; nguồn tàÌ_-nguyên–đầu-vào-ngày-càng–bị cạn-kiệt.—Điều nay dẫn đên thuốc Y học cổ truyền không có khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tê.

  1. Nôi dungJiiên^aiHióa- thuôc-Y~học- cổ-tviuyềnNôi dung cơ bản của hiện đại hóa Y học cổ truyền bao gồm:

ỊP Tăng cường nghiên cứu cơ bản về lyithụyết/lý luận y học truyền thông.

í

-Nâng cao trình đô kỹ thuật của nền công ngh^p^thuoc^học co^truyền. i- Thúc đẩy thuốc y học truyền thông và y học hiện đại cùng phát triển.

,ỹ Xúc tiến hội nhập quốc tế.

noa^pna-c-trien san-xuar cac rnuo.c y nqc co uruyen; Iigmen uuu puai UL1K11 uau “thuốc y học cổ truyền đạt tiêu chuẩn qụoc tế, theo phửơng pháp khoa học, kỹ thuật hiện’ đại trên cơ sở giữ đựơc nền tảng vă đậcThù”của thuốc y học cô truyền. Y

Các hệ thông_chuẩn-hóa-trong. hiệu:daùhổa-thuôc..Y. hoc cổ truyền bao. gồm: GAP (Thực hành Trồng trot TốtL GLP (Thực hành Phòng thí nghiệm Tốt): GME-YThưc hành Sản .xuấtvrốt)GCR-CThựTMÍÍO^^^^^à GSP (Thực hành Dịch vụ Tốt).          *

r

Tất cả các hoạt động trên dẫn đến các thuốc phát triển từ Y học cổ truyền

phải hiệu quả, an toàn và có thể xâm nhập vào thị trường của các nưóc phát

, •/? trĩên.

Nhìn chung, để có thể hiện đại hóa thuốc Y học cổ truyền cần có 3 yếu tô” quyết định là:

– Cơ quan quản lý nhà nước: Đóng vai trò vô cùng quan trọng vì nó định hướng sự phát triển ở phạm vi vĩ mô cũng như tạo điều kiện để huy động các nguồn lực vào sự phát triển này. Chính phủ phải nghiên cứu và ban hành chiến lược, chính sách phù hợp, và chỉ đạo quá trình thực hiện chính sách đó.

  • Tài chính uà đầu tư: Hiện đại hóa cần có đầu tư lớn để thay đổi công nghệ, dây truyền sản xuất, v.v… cần đa dạng hóa các nguồn vôn, bao gồm vốn của chính phủ, ngân hàng và của chính các công ty dược.
  • Khoa học và công nghệ: cần đổi mới về cách thức, phương pháp, phương tiện, v.v… áp dụng tiến bộ của nhiều lĩnh vực khác nhau, như hóa thực vật, nông học, lâm học, công nghệ sinh học, dược lý học, bào chế học, v.v…
  1. Các xu hướng hiện đại hóa thuốc Y học cổ truyền: Nhìn chung, có 3 xu hướng hiện đại hóa y học cô truyền là: QsjX_

-(K

r—– ——————- w ———– ‘ ~ ‘ *o                ;—————- , ————– —                                —– ~ ———————————— o —————————————– V ĩ——– o——- ————————

giữ nguyên hay có thể thay đổi một sô” yếu tô” của tri thức và kinh nghiệm truỹen thống, nhưng phaĩ~d’ạf”ỉữợc‘’mụcTtiếu ‘hiện~’đậi hốa chùng lẩ ầri thanThiêu qụả,,yA tTện ‘duhg. ~ 17                                                    ■■_________ *—________           … .

Trong 3 con đưòng này thì con đường thứ nhất là khó khăn nhất vì các hệ thông lý thuyết và phương pháp điều trị hoàn toàn trái ngược vối y học phương Tây.

Nhìn chung, hiện đại hóa các thuốc truyền thông, mà thực chất là phát triển dược phẩm mới dựa trên vốn tri thức và kinh nghiệm hoặc công nghệ truyền thông, là con đường ngắn và tiết kiệm vì chi phí phát triển chỉ bằng 1% so với phát triển dược phẩm mới bằng con đường tổng hợp và rút ngắn thời gian, chỉ còn 3-5 năm, nghĩa là bằng 1/2 so với cách trên.

Quyền sở hữu trí tuệ và sự chia sẻ công bằng lợi ích trong phát triển tài nguyên cây thuốc:

Trong nhiều thập kỷ xu hướng phát triển của Quyền sở hữu trí tuệ (IPR- Intellectual Property Right) đối với nguồn gen và các tài nguyên hóa sinh là mở rộng dần về phạm vi và mức độ sở hữu. Kết quả là có hai hệ thống khác nhau chi phối việc sở hữu và tiếp cận nguồn gen và các tài nguyên hóa sinh:

  • Một là, các vật liệu gen không được cải tiến, như các loài sinh vật hoang dại, các giống cây trồng và vật nuôi cổ truyền được nông dân nuôi trồng, được coi là tài nguyên không có chủ sở hữu và tự do tiếp cận.
  • Hai là, các quy định của IPR, như bằng sáng chế (Patent), quyền của người chọn tạo giống (Plant Breeders’ Rights) và bí mật thương mại (Trade Secrets), lại thiết lập quyền sở hữu đối với các giống cây trồng vật nuôi mới được những người chọn tạo giông dưối dạng thương mại tạo ra cũng như với các chất được các công ty dược phân lập và phát triển.

Trong các nước công nghiệp phát triển, bằng sáng chế được trao nếu sự khám phá đòi hỏi đầu tư nhân lực đáng kể và sự khéo léo. Ví dụ như trong lĩnh vực nông nghiệp, phát hiện một gen có thể là sáng chế nếu nó được sử dụng trong một loài, trong đó nó đã không tiến hóa hoặc nó không thể chuyển sang loài đó theo cách nhân giống truyền thông. Cũng như vậy, các chất tinh chế có thể được cấp bằng sáng chế nếu chất đó chỉ tìm thấy trong tự nhiên dưới dạng hợp chất. Do đó, ở các nước như Mỹ, châu Âu, Nhật Bản, các công ty dược có thể xin bằng sáng chế đối với các chất hóa học lấy từ các nguồn gen và tài nguyên thiên nhiên đã được chuyển dạng (như các thuốc được phát triển từ các sản phẩm thiên nhiên đã được biến đổi dạng tự nhiên của chúng trong quá trình phát triển thuốc và các dẫn xuất này có thể được cấp bằng). Ngược lại, nhiều nước đang phát triển lại loại bỏ các thuốc và vật liệu sinh học ra khỏi lĩnh vực được bảo vệ sáng chế.

Khi phạm vi của quyền sở hữu đối với các nguồn gen được cải tiến đã mở rộng trong suốt thế kỷ qua thì các nguồn gen không được cải tiến lại vẫn giữ nguyên trong tình trạng là tài sản chung. Tuy nhiên, bắt đầu có câu hỏi đặt ra cách đây hơn 20 năm: Trong lĩnh vực nông nghiệp, một phần rất rõ ràng của cái gọi là nguồn gen không được cải tiến thực chất là sản phẩm của lao động miệt mài và khéo léo của người nông dân vì họ đã chọn và nhân các giông cây trồng theo điều kiện và thị hiếu địa phương. Cũng như vậy, rất nhiều dược phẩm được phát triển từ các chất thiên nhiên thực chất đã được các thầy lang cô truyền khám phá trước. Vậy tại sao các đóng góp trí tuệ này lại không nhận được quyền sở hữu trí tuệ như đóng góp của các nhà nhân giông và các công ty dược ? Hoặc là ngược lại, nếu như sự đóng góp của nông dân và các thầy lang là tài sản chung thì tại sao các nhà nhân giông thương mại và các công ty dược lại không làm như vậy ?

Ngày nay, người ta nhận thấy bên cạnh những mặt tốt và ưu điểm, thuốc tổng hợp còn nhược điểm là có kèm những tác dụng không mong muốn. Do đó nhiều nhà khoa học chuyển hướng sang tìm kiếm thuốc mới từ cây cỏ, đặc biệt từ kho tàng cây thuốc của các dân tộc thiểu số. Việc tìm kiếm này vừa nhanh lại vừa ít tốn kém, vì được thừa hưởng những kinh nghiệm có sẵn. Nhiều loại thuốc mới được khai thác từ nguồn tài nguyên này đã mang lại lợi nhuận không nhỏ cho các hãng sản xuất thuốc, nhưng người dân cung cấp tri thức sử dụng những cây thuốc hoặc bài thuốc đó (theo nhiều cách khác nhau) lại không được hưởng lợi gì. Trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa, các tri thức đều có quyền sở hữu và việc sử dụng tri thức đó cần phải trả tiền thì đây là điều không công bằng.

Tại sao lại như vậy? Có thể lý giải điều này như sau:

  • Chưa có khung pháp lý: Hiện có rất ít quốc gia xây dựng khung pháp lý về sở hữu tri thức truyền thông trong việc sử dụng cây cỏ làm thuốc và theo mức độ rất khác nhau. Phần lớn các quốc gia, trong đó có Việt Nam, chưa xây dựng được khung pháp lý. Đây là vấn đề khó, không thể hoàn thành trong thời gian ngắn.
  • Vì lợi nhuận: Người khai thác tài nguyên, để thu lợi, đã không thấy trách nhiệm phải chia sẻ lợi ích thu được với bên cung cấp tài nguyên.
  • Nhận thức sai lệch và không đầy đủ: Nhiều nhà quản lý, nhà khoa học, nhà doanh nghiệp (đặc biệt ở Việt Nam) vẫn cho rằng tri thức sử dụng cây cỏ làm thuốc là tài sản của “toàn dân”, do đó ai cũng có thể khai thác. Phía cộng đồng và người dân có tài nguyên, do trình độ nhận thức thấp và các lý do khác, chưa nhận thức được quyền lợi nào cần được bảo vệ và lợi ích nào cần được chia sẻ.

Vậy phải làm gì?. Dù vẫn còn tranh cãi, chưa rõ ràng và chờ đợi khung pháp lý, nhưng trong thực tế tại cộng đồng thì hầu hết những người nắm giữ tri thức sử dụng cây cỏ làm thuốc có cuộc sống và thu nhập kinh tế phụ thuộc vào tri thức và kinh nghiệm của họ. Vì vậy, việc tư liệu hóa một cách chi tiết tri thức và kinh nghiệm này cần tế nhị, đặc biệt là trong điều tra thừa kế và phát triển thuốc mới cần phải giữ bí mật về tri thức và kinh nghiệm của cá nhân hay của cộng đồng.

Sự bí mật có thể ở nhiều mức độ khác nhau như:

  1. Không hỏi hoặc công bố chi tiết cách phối hợp các vị thuốc trong một bài thuốc (thường là bí mật của từng cá nhân hay gia đình).
  2. Cần bảo đảm các thông tin này không bị người thứ ba lợi dụng cho các mục đích thương mại, khi không được sự đồng ý của người cung cấp tin.

Nếu tất cả các điều trên chưa đủ, thì cuối cùng là nguyên tắc đạo đức: Phần lớn người dân có nguồn tri thức này là người nghèo, vậy tại sao các công ty, trong khi hăng hái làm công tác từ thiện, lại không chia sẻ (dù rất ít) các lợi nhuận có được khi thương mại hóa thành công thuốc dựa trên nguồn thông tin do chính người nghèo cung cấp!

 

 

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *